fbpx

Tìm hiểu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 đến 6 tuổi

“Những điều trình bày dưới đây là một cách nhìn tổng quát về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 tuổi đến 6 tuổi. Dựa và những đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ theo từng giai đoạn tuổi của trẻ, phụ huynh có thể có cái nhìn sơ bộ về khả năng ngôn ngữ của trẻ. Từ đó, phụ huynh có thể có quyết định hỗ trợ nếu trẻ có biểu hiện hạn chế trong quá trình phát triển ngôn ngữ.” (Thạc sĩ ngôn ngữ học Trương Thanh Loan tổng hợp)

Năm thứ nhất

1.    Ngôn ngữ tiếp nhận :

•    0 – 3 tháng 
    – Đáp ứng âm thanh và tiếng nói 
    – Giao tiếp mặt đối mặt 
    – Chú ý đến môi trường xung quanh 
•    3 – 6 tháng 
    – Hướng mắt và đầu về phía âm thanh và tiếng nói 
•    6 – 9 tháng : 
    Trẻ biết nhìn vào tranh và thực hiện được một vài yêu cầu đơn giản có kèm động tác minh hoạ của người yêu cầu.
•    9 – 12 tháng : 
    Trẻ hiểu những yêu cầu như vỗ tay, ngưng hành động khi được yêu cầu, biết quay lại khi nghe gọi tên mình.

2.     Ngôn ngữ diễn đạt

•    0 – 3 tháng : 
    – Trẻ biết khóc, phát ra một âm nào đó hoặc là gừ…gừ….trong cổ họng. 
    – Trẻ biết cười , làm cử động, phát âm với giọng nhẹ khi được người khác nói chuyện.
•    3 – 6 tháng : 
    – Phát ra hai nguyên âm khác nhau. 
    – Phát một âm tiết gồm một phụ âm đầu và một nguyên âm. 
    – Phát ra những âm khác nhau thể hiện cảm xúc khác nhau. 
    – Biết làm hay bắt chước người khác làm những cử động của miệng. 
•    6 – 9 tháng : 
    – Phát ra bốn nguyên âm khác nhau, có thể nói ba, ma. 
    – Bập bẹ nói chuyện với người quen.
    – Bắt chước làm lại âm thanh mà trẻ đã làm khi nghe người lớn phát ra âm đó. 
    – Bắt chước hành động đơn giản.
•    9 – 12 tháng : 
    – Phát ra âm có ngữ điệu để thể hiện ý muốn hay trao đổi thông tin nào đó. 
    – Bắt chước các cử động của miệng, các hành động kèm theo phát âm như  vừa vỗ bụng vừa kêu bum….bum

Năm thứ hai

1.    Ngôn ngữ tiếp nhận

•    12 -15 tháng 
– Trẻ biết chọn, chỉ và đưa vật theo yêu cầu (chọn 1 trong 2 vật)
• 15 -18 tháng
     -Bắt đầu nhận biết 1 bộ phận cơ thể 
     -Biết làm theo 2,3 yêu cầu đơn giản gồm 2, 3 từ 
•    18 – 24 tháng 
    – Biết thực hiện hành động trên vật khi được đưa vật.
    – Nhận biết đế 7 bộ phận cơ thể.
    – Biết chọn đến 3, 4 vật, đồ dùng quần áo khi được yêu cầu.
    – Bắt đầu chọn 1 hình trong 2, 4 vật.
    – Lắng nghe hết 1 truyện ngắn.

2. Ngôn ngữ diễn đạt

•    12 – 15 tháng : 
    -Bắt chước phát âm một từ, hai từ với mức độ gần giống.
    -Thực hiện các hành động và kèm theo phát âm lời phù hợp với hành động đó.
    – Biết trả lời câu hỏi đơn giản bằng một từ.
•    15 – 18 tháng 
    -Phát âm cùng với cử chỉ khi trẻ chưa biết từ.
    -Cố gắng hát các bài hát quen thuộc.
    -Lặp lại từ cuối câu.
•    18 – 24 tháng 
    -Có thể nói 25 từ.
    -Bắt chước câu 2 từ (có thể chưa sử dụng được)
    -Tính dễ hiểu của lời nói : người thân hiểu rõ.

Năm thứ ba

sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

1.    Ngôn ngữ tiếp nhận

•    2 – 3 tuổi 
    -Biết làm theo 10 yêu cầu.
    -Chọn vật và thực hiện hành động trên vật 
    -Chọn 1 hình trong 9 hình.
    -Chỉ vật khi nghe nói công dụng (chọn đến 6 vật).
    -Nhận biết các nhóm vật : thức ăn, động vật, đồ vật. 
– Nhận biết một số cặp từ tương phản.
    -Chú ý nghe kể chuyện trong 10’.
    -Phân biệt được nhiều – ít.
    -Nhận biết từ chỉ sự sở hữu.
    -Phân biệt có – không.

2. Ngôn ngữ diễn đạt

    – Biết kết hợp 2 từ.
    – Có thể sử dụng từ đơn luân phiên với người khác.
    – Vốn từ khoảng 50 từ khi trẻ 2 tuổi và 200 từ khi trẻ 3 tuổi.
    – Cuối thời kỳ này trẻ có thể nói câu 3 từ.
    – Biết duy trì đối thoại đơn giản bằng câu 2, 3 từ 
    – Biết sử dụng số nhiều, từ chỉ sự sở hữu, đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai.

Tuổi mẫu giáo (3t – 6t)

1.    Ngôn ngữ tiếp nhận

    3 – 4 tuổi 
    -Làm theo yêu cầu 2, 3 thành phần.
    -Nhận biết được nhiều bộ phận cơ thể.
    -Nhận biết được giới tính.
    -Chọn vật theo nhóm.
    -Nhận biết thêm các từ tương phản.
    -Nhận biết các thành phần giống và khác nhau của nhóm.

2. Ngôn ngữ diễn đạt

    *  3 – 4 tuổi 
    -Sử dụng câu 3 từ.
    -Biết đặt câu hỏi.
    -Nói tên họ 
    -Trả lời câu hỏi về chức năng của vật.
    -Hát bài hát đơn giản.
    -Bắt đầu sử dụng mạo từ.
    -Sử dụng đại từ thứ ba.
    -Lặp lại câu 6 từ.
    -Có ngữ điệu trong câu nói.

3. Ngôn ngữ mạch lạc :

Đối với trẻ mẫu giáo, ngôn ngữ mạch lạc là khả năng sử dụng lời nói gọn gàng, dễ hiểu, có thứ tự trong giao tiếp. Sự mạch lạc càng tốt hơn khi trẻ vào giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo.

4.  Đặc điểm ngữ pháp :  

Ở tuổi mẫu giáo, câu của trẻ sử dụng có cấu trúc hoàn chỉnh, đủ thành phần hơn. Trong giao tiếp, trong kể chuyện, câu nói của trẻ có ngữ điệu rõ ràng, thích hợp ngữ cảnh. Bé dùng từ cảm thán, sử dụng câu cảm thán khá nhiều trong các cuộc đối thoại. Ngoài các câu đơn trẻ còn sử dụng các hình thức câu phức và câu ghép. Sự phức tạp của câu tăng theo độ tuổi của bé.

Nên cho trẻ học ngoại ngữ trước tuổi 15

Với những kinh nghiệm từ thực tế, đối với trẻ em Việt Nam, việc học tiếng Anh nói riêng và ngoại ngữ nói chung, nên bắt đầu từ độ tuổi nào là phù hợp?

Người ta đã bỏ ra rất nhiều thời gian, nỗ lực và tiền bạc để nghiên cứu về vấn đề gây nhiều tranh cãi này. Tuy nhiên vẫn chưa có kết quả rõ ràng vì gần như không thể tách rời yếu tố độ tuổi ra khỏi các yếu tố liên quan khác, như môi trường học tập, động lực và chất lượng giảng dạy.

Nhiều người cho rằng có một “độ tuổi tốt nhất” cho việc học ngoại ngữ và giai đoạn này sẽ áp dụng cho việc học ngôn ngữ thứ hai. Đây là độ tuổi mà trẻ đang phát triển và bộ não sẽ giúp người học dễ thành công trong việc học ngoại ngữ. 

Hầu hết mọi người tin rằng đó là độ tuổi trước dậy thì và đó là thời kỳ mà trẻ thường dựa nhiều hơn vào khả năng học tập bẩm sinh. Đến giai đoạn dậy thì, người học có xu hướng dựa vào những “chiến lược và kỹ năng” học tập mang tính chất chính thống hơn. Điều này có thể khiến trẻ em thường thành công hơn trong việc học ngoại ngữ so với người lớn. Tuy nhiên, thành công này của trẻ em trong việc học ngoại ngữ cũng có thể do các yếu tố khác như việc trẻ em có nhiều thời gian học tập ở trường hơn người lớn, hoặc do chúng có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh nhiều hơn thông qua truyền hình và Internet.

Có một thực tế rõ ràng là trẻ học ngôn ngữ thứ hai trước tuổi 15 nhìn chung có nhiều khả năng giao tiếp trôi chảy như người bản xứ hơn.

Việc cho học sinh độ tuổi mầm non tiếp xúc với ngoại ngữ nên xác định là học nghiêm chỉnh, chính xác ngay từ đầu, hay chỉ là hoạt động vui chơi làm quen? Điều kiện cần nhất khi tổ chức dạy học/ làm quen với ngoại ngữ cho trẻ là gì?

Mỗi đứa trẻ đều có điểm mạnh và điểm yếu khác nhau, sở thích khác nhau và học tập trong những môi trường khác nhau. Giáo viên cần phải hiểu rõ về cách thức trẻ có thể tiếp thu một ngoại ngữ và sử dụng hiểu biết này để có phương pháp giảng dạy thích hợp với từng em trong một tập thể nhất định. 

Đối với trẻ, không nhất thiết phải quá nặng nề phân biệt giữa “học mà chơi” hay học nghiêm túc. Với thực tế là trẻ em có thể học được rất nhiều khi chơi; phụ huynh và học sinh cần rất xem trọng các cơ hội để tạo không gian cho trẻ “chơi mà học” trong quá trình học tập. Trong khi chơi, trẻ có thể thử những vai trò mới, ngôn ngữ mới và thông thường, những gì trẻ thể hiện thường vượt ra khỏi khuôn khổ khả năng của chúng trong các lớp học. Đồng thời, trong khi chơi, trẻ có thể có những phát hiện về ngôn ngữ – những phát hiện “tự thân” này sẽ được lưu giữ tốt hơn trong trí nhớ của trẻ so với những gì chỉ đơn thuần được “truyền đạt” bởi giáo viên. Vì thế, vai trò của giáo viên là hỗ trợ, hướng dẫn và làm mẫu cho trẻ sử dụng những công cụ ngôn ngữ cần thiết, gợi ý và đưa ra những thử thách để trẻ vượt qua và tiếp thu bài. 

Một trong những mối quan tâm của của các bậc phụ huynh trong việc dạy trẻ là công tác đánh giá và kiểm tra. Một thực tế không thể phủ nhận là các bài kiểm tra là một phần của cuộc sống, đặc biệt là ở trường trung học, trẻ cần phát triển các kỹ năng để hoàn thành tốt các bài kiểm tra. Tuy nhiên trẻ có xu hướng học ngoại ngữ tốt hơn khi chúng thích thú và có động lực học ngôn ngữ này trong bối cảnh quen thuộc. Ví dụ, chúng ta thường thấy các em được yêu cầu tự mình hoàn thành một bài kiểm tra để đánh giá khả năng của cá nhân học sinh. Tuy nhiên, điều này lại đi ngược lại với mục đích sử dụng ngôn ngữ thông thường, đó là giao tiếp với người khác. Chúng ta gọi đây là khoảng cách giữa giảng dạy và kiểm tra. Ngôn ngữ là để giao tiếp và thành công thực sự với một ngôn ngữ là khi chúng ta có khả năng nêu và tiếp nhận các ý kiến, quan điểm cũng như những ảnh hưởng tạo ra bởi những gì được truyền đạt thông qua ngôn ngữ đó. Tuy nhiên, các bậc phụ huynh thì thường chỉ thấy được sự tiến bộ của con cái mình thông qua điểm số, hơn là cách đánh giá học sinh một cách liên tục, đặt trong bối cảnh sử dụng ngôn ngữ thực tế như đã nói ở trên.

Nguồn: Tổng hợp

Xem thêm: Nên cho trẻ học tiếng Anh khi nào